Thứ Tư, 18 tháng 5, 2016

HẸP BAO QUY ĐẦU Ở TRẺ EM

                                      HẸP BAO QUY ĐẦU Ở TRẺ EM



“Bác sĩ ơi, con em có bị hẹp bao qui đầu không vậy?” – đây là một câu hỏi thường gặp ở nhiều gia đình có bé trai, và không ít trường hợp, câu hỏi này được đưa ra trong lần gặp bác sĩ đầu tiên để khám tổng quát bé, thường trong khoảng 1-2 tháng tuổi. Nhiều cha mẹ ám ảnh chuyện hẹp bao qui đầu đến mức quyết tâm kéo ngược da qui đầu của trẻ, tự mình hoặc nhờ y bác sĩ, để thấy an tâm, nhưng không biết cách thực hành này có thể gây nguy hại không nhỏ về sau cho bé. Vì vậy, đề tài nói chuyện lần này là về lĩnh vực nhạy cảm nhưng gây không ít hiểu lầm và đau thương này của trẻ trai.

Hẹp bao qui đầu, theo định nghĩa, là khi da bao qui đầu – vùng da xung quay đầu chim – không kéo ngược lại được.
Thông tin quan trọng mà ba mẹ cần ghi nhớ, là tỉ lệ hẹp bao qui đầu thật – bệnh lý - cần can thiệp, là rất thấp, con số thống kê chỉ khoảng dưới 1%.

Một điều cần ghi nhớ nữa, là từ lúc bé sinh ra, da qui đầu của bé sẽ dính chặt vào thân chim, và sẽ từ từ tự tách ra khỏi thân chim khi bé lớn lên. Nếu muốn tưởng tượng, sẽ giống như bông chuối vậy, ban đầu khép thật chặt, sau đó các lớp vỏ cứng mới từ từ dang ra để lộ những trái chuối con. Nhưng ở người, sự tách này diễn ra khá chậm trãi. Khoảng 4 tuổi, 90% bé trai sẽ có da qui đầu tự tách ra, và đến tuổi dậy thì, 99% - gần hết – trẻ trai có da qui đầu tách ra, và có thể tự kéo ngược lại. Vì vậy, trong giai đoạn này, người ta gọi là “hẹp bao qui đầu sinh lý” – có nghĩa là một tình trạng bình thường. Người chăm sóc trẻ nên kiên nhẫn chờ đợi, và không nên suy nghĩ quá nhiều, hoặc manh động quá mức. Việc cố tách da qui đầu của trẻ, kéo ngược lại, khi cơ thể trẻ chưa sẵn sàng, giống như bạn cố gắng tách các bẹ bông chuối ra khi bông còn khép kín. Điều này không những gây đau đớn cho trẻ, mà còn gây tổn thương và để lại sẹo về sau. Một số trường hợp khi cố kéo ngược da qui đầu, lại phải vào cấp cứu vì không kéo da qui đầu về vị trí ban đầu được do chim bé bị sưng, viêm. Một số trẻ bị sẹo do da qui đầu bị kéo ngược quá sớm, lại có thể bị hẹp bao qui đầu thật sự về sau, do sẹo thít chặt quanh chim. Có nghĩa là bạn tự gây ra tình trạng bạn muốn tránh cho con, một cách rất không cần thiết.

Một số người quan niệm phải kéo ngược da qui đầu để vệ sinh. Điều này cũng không đúng lắm. Chỉ đúng khi da qui đầu của bé đã tự tách ra, còn khi chưa tách, thì không cần vệ sinh làm gì. Một số trẻ có thể thấy những cục trắng, vàng ở dưới da qui đầu, nhưng đó chỉ là những tế bào chết từ da qui đầu thôi, hoàn toàn lành tính và không gây hại hoặc gây nhiễm trùng gì cả.
Rất nhiều ba mẹ đánh đồng việc hẹp bao qui đầu với việc phải cắt bao qui đầu cho trẻ, điều này không đúng. Việc quyết định cắt bao qui đầu vì hẹp bao qui đầu bệnh lý chiếm tỉ lệ rất ít. Nhiều nơi trên thế giới, việc cắt bao qui đầu là một quan niêm về văn hóa, niềm tin. Nhiều nơi khác, cắt bao qui đầu là một lực chọn của người chăm sóc trẻ, nhưng không phải là một chuyện bắt buộc. Lựa chọn này có, là do có bằng chứng cho thấy việc cắt bao qui đầu của trẻ có liên quan đến việc giảm nguy cơ nhiễm trùng tiểu, nguy cơ bị các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, nguy cơ ung thư dương vật khi trẻ trưởng thành. Tuy nhiên, đây vẫn là lựa chọn có-không của ba mẹ và người chăm sóc trẻ, vì khi thực hiện thủ thuật cắt bao qui đầu cần phải gây mê, gây đau đớn, sợ hãi, có nguy cơ nhiễm trùng, biến chứng từ thủ thuật, cũng như cũng có thể sang chấn tâm lý cho trẻ ở một số trường hợp.

Một điều ba mẹ cần lo, nhưng không thấy ai lo, là lỗ tiểu có mọc ở đúng vị trí không. Điều này thường được kiểm tra khi trẻ được khám tổng quát lúc mới sinh, hoặc khi trẻ được 2-4 tháng tuổi. Lỗ tiểu đúng chỗ là tại đầu chim. Nếu các bạn thấy bé đi tiểu mà nước tiểu không ra từ đầu chim, mà lại ra ở thân dưới hoặc thân trên của dương vật, thì nên cho bé đi khám bác sĩ ngay nhé.

Tóm lại, đây là một số điểm cần ghi nhớ: 
1. Không được cố gắng kéo ngược bao qui đầu để vệ sinh. Không cần vệ sinh bên trong da qui đầu ở trẻ nhỏ
2. Đa số các trẻ sẽ có tình trạng hẹp bao qui đầu sinh lý – điều này là bình thường. Da qui đầu sẽ tự tách khỏi chim dần dần, và xảy ra ở gần như tất cả các bé trai trong giai đoạn dậy thì.
3. Hẹp bao qui đầu bệnh lý rất ít gặp, chiếm dưới 1% dân số nam
4. Nên cho trẻ đi khám bác sĩ nếu sau khi dậy thì (14-15 tuổi) mà bao qui đầu chưa tự tách, hoặc nếu trẻ khó chịu, đau khi đi tè.
5. Cắt bao qui đầu là một điều trị cho hẹp bao qui đầu bệnh lý, nhưng chúng ta cũng có thể chọn cắt bao qui đầu cho trẻ vì có một số lợi ích nhất định. Nên cân nhắc giữa những lợi ích và bất lợi (biến chứng, đau…) ở từng trường hợp khi quyết định cắt bao qui đầu

VIÊM TAI GIỮA CẤP Ở TRẺ EM

                                                       VIÊM TAI GIỮA CẤP


Viêm tai giữa cấp là một bệnh khá phổ biến ở trẻ em nhỏ. 
Việc một trẻ nhỏ có vài lần viêm tai giữa trong một năm là khá bình thường. Thống kê cho thấy khoảng 2/3 trẻ nhỏ dưới 3 tuổi có ít nhất một đợt viêm tai giữa. Đến khi trẻ đến tuổi bắt đầu vào lớp 1, 90% các trẻ đã có tối thiểu một đợt viêm tai giữa. Nhóm trẻ từ 6 tháng đến 18 tháng tuổi là nhóm tuổi có tần suất viêm tai giữa xảy ra cao nhất. Trẻ nhỏ dưới 2 tuổi thường dễ bị viêm tai giữa hơn trẻ lớn hơn vì ống thông Eustachian nối khoang tai giữa với hầu họng ở những trẻ này nhỏ hơn. Vì vậy, khi trẻ bị những đợt viêm mũi họng, viêm hô hấp trên, các tác nhân gây bệnh (virus, vi trùng) dễ “leo” vào ống thông và “lọt vào” khoang tai giữa, gây nhiễm trùng.

1. Dấu hiệu và triệu chứng bệnh: 

Khi tình trạng viêm nhiễm xảy ra trong khoang tai giữa, màng nhĩ bị ảnh hưởng, viêm đỏ, sưng, đau, và phồng lên do tăng áp lực trong khoang, ống Eustachian cũng có thể bị ảnh hưởng tương tự. Vì vậy, trong bệnh này, bé sẽ khó chịu hoặc đau tai, có thể làm giảm thính lực trẻ cấp tính, và có thể bị ù tai.

Khi trẻ bị viêm tai giữa, trẻ thường sẽ có triệu chứng viêm nhiễm đường hô hấp, sốt, khó chịu vì đau. Một số trẻ không nói được có thể cứ kéo tai của mình, đưa ngón tay vào trong ống tai bị bệnh hoặc có thể lắc đầu liên tục, vì trẻ cảm thấy khó chịu tại chỗ. Trẻ có thể ói, biếng ăn, đừ, và có thể nghe kém hơn bình thường.

Một số trường hợp, khi màng nhĩ căng phồng quá mức, có thể vỡ, và dịch mủ viêm sẽ thoát ra ngoài, lúc này bé sẽ cảm thấy bớt đau vì được cân bằng áp lực giữa khoang và ống tai ngoài, nhưng ba mẹ có thể rất lo lắng khi thấy dịch mủ chảy ra khỏi tai con.

Một số viêm tai giữa có thể có biến chứng nặng hơn, gây nhiễm trùng lan rộng qua vùng sau tai, hoặc dẫn đến viêm phổi, nhiễm trùng huyết, vân vân, nhưng tỉ lệ các biến chứng này rất thấp.

2. Chăm sóc và thăm khám trẻ: 
Khi nghi ngờ con có triệu chứng, nên cho trẻ đi khám bác sĩ. Khi thăm khám trẻ, bác sĩ sẽ đánh giá tình trạng tổng quát của bé, và sẽ tư vấn về quyết định dùng kháng sinh hay không, hoặc nên theo dõi, tái khám như thế nào cho hợp lý. Màng nhĩ của trẻ khi vỡ lại có thể phục hồi và tự vá lành lại khá nhanh, vì vậy, không cần lo lắng về điều này.

Đa số các trường hợp (75%) viêm tai giữa gây ra do vi trùng, chỉ 25% trường hợp còn lại là do virus. Tuy nhiên, không như những nhiễm trùng khác, nhiễm trùng viêm tai giữa đa số lại tự hết và không cần điều trị kháng sinh.

MỘT ĐIỀU LƯU Ý LÀ Ở TRẺ NHŨ NHI DƯỚI 1 TUỔI BỊ VIÊM TAI GIỮA, VIỆC SỬ DỤNG KHÁNG SINH LÀ ĐIỀU HOÀN TOÀN BẮT BUỘC, chứ không thể bỏ không theo dõi như trẻ lớn hơn được, vì nhóm trẻ này hệ miễn dịch rất kém, và dễ bị các biến chứng của bệnh hơn. Nhóm trẻ này cũng là nhóm nên được thăm khám và đánh giá kỹ và thường xuyên hơn.

Việc chăm sóc một trẻ viêm tai giữa cũng tương tự như một trẻ bị viêm đường hô hấp trên khác, bao gồm giảm đau, hạ sốt khi cần, giúp trẻ thoải mái, và khuyến khích trẻ ăn uống từ từ để tránh mất nước. Tuy nhiên, vì tình trạng tăng áp lực khoang màng nhĩ, và khả năng màng nhĩ có thể bị vỡ, các bác sĩ có thể có khuyến cáo không được bơi lội, và không được bay, cho đến khi bệnh lành hẳn.

Các bé bị viêm tai giữa nên được tái khám sau đợt bệnh, để xem bệnh có hết hẳn hay không. Một số trường hợp khi viêm tai giữa đã hết, để lại dịch ứ đọng trong khoang tai. Dịch này thường tự rút sau vài tuần, vài tháng, tuy nhiên, có những trường hợp (hiếm) dịch ở lì trong khoang không chịu đi, sẽ làm ảnh hưởng đến độ rung của màng nhĩ, gây giảm thính lực cho trẻ. Những trường hợp này có thể sẽ cần can thiệp của bác sĩ chuyên khoa để giúp dịch được thoát ra ngoài, giúp trẻ nghe được tốt hơn, vì việc giảm thính lực sẽ ảnh hưởng rất lớn đến phát triển ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ trong độ tuổi này.

3. Những thông tin cần nghi nhớ: 
• Việc một trẻ nhỏ có vài đợt viêm tai giữa trong năm khá phổ biến
• Kháng sinh không phải lúc nào cũng cần thiết để điều trị viêm tai giữa
• Có thể có dịch trong tai giữa sau đợt viêm, dịch có thể ở lại vài tuần hoặc vài tháng sau đợt viêm, và là điều bình thường. Chỉ khi có ảnh hưởng đến thính lực, hoặc khi ở lại quá lâu, mới có chỉ định can thiệp.
• Đa số trẻ sau các đợt viêm tai giữa, thủng màng nhỉ, vẫn phát triển bình thường, với thính lực bình thường.

BỆNH VIÊM PHẾ QUẢN Ở TRẺ EM

                                                          BỆNH VIÊM PHẾ QUẢN


Trong các bệnh viêm đường hô hấp thì bệnh viêm tiểu phế quản ở trẻ là 1 trong những thường gặp nhất nó là tiền đề của những bệnh nặng hơn về sau này như bệnh hen suyễn chẳng hạn.


1. Triệu chứng:
Viêm tiểu phế quản là bệnh hay gặp ở trẻ nhỏ, nhất là trẻ 3-6 tháng tuổi. Khi mắc bệnh, các phế quản nhỏ này bị viêm, sưng phù, tiết nhiều dịch làm cho đường thở của trẻ bị chít hẹp thậm chí tắc nghẽn. Các bậc cha mẹ không được chủ quan khi thấy trẻ có những dấu hiệu như ho, chảy nước mũi trong, sốt vừa hoặc sốt cao. Sau từ 3 - 5 ngày, trẻ ho ngày một nhiều, xuất hiện thở khó, thở rít. Những trường hợp nặng thì tím tái, thậm chí ngừng thở. Những trẻ đến viện khi thăm khám thường thấy nhịp thở nhanh, sốt vừa, xuất hiện các cơn co kéo hô hấp, lồng ngực bị rút lõm, trẻ thở rên.

Tiếng thở có thể nghe ran rít, ran ngáy, thông khí phổi kém. Sau đó, trẻ ho nhiều hơn kèm khò khè và có thể bị khó thở thở nhanh hơn, thở co kéo lồng ngực. Nặng hơn nữa trẻ có thể bỏ bú, tím tái. Bệnh có triệu chứng tương tự hen suyễn. Thông thường trẻ sẽ khò khè kéo dài khoảng 7 ngày, ho giảm dần trong khoảng 14 ngày rồi khỏi hẳn nếu được chăm sóc tốt. Tuy nhiên, trong khoảng 1/5 trường hợp, bệnh có thể kéo dài nhiều tuần lễ.
2. Nguyên nhân chính gây bệnh viêm tiểu phế quản ở trẻ em :
Tác nhân làm cho bé bị viêm tiểu phế quản thường là do các virus, đứng hàng đầu là virus hợp bào hô hấp, chiếm 30- 50% các trường hợp mắc bệnh. Virus này có 2 điểm đặc biệt: có khả năng lây lan rất mạnh nên bệnh có khả năng xảy ra thành dịch; người lớn, bé lớn cũng có thể bị nhiễm nhưng biểu hiện thường nhẹ, chỉ như cảm ho thông thường. Nhưng nếu bé dưới 2 tuổi bị lây nhiễm có thể biểu hiện dưới dạng nặng là viêm tiểu phế quản.
3. Phòng tránh: 

bé bị sổ mũi thì bố mẹ cần lấy nước mũi cho bé thường xuyên,Nhỏ nước muối sinh lý để sạch khuẩn và vệ sinh phía trong mũi cho trẻ
Không nên mặc quá nhiều áo cho bé làm cho bé nóng có thể ra mồ hôi dẫn đến cơ thể bị nhiễm lạnh.
Không để cho bé hít phải khói thuốc lá. Khói thuốc lá làm rát phế quản nên trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh nguy cơ nhiễm viêm tiểu phế quản là rất cao.
Cố gắng cách ly với nguồn bệnh, hạn chế tiếp xúc với người bệnh để tránh lây lan





VIÊM PHỔI Ở TRẺ EM, TRIỆU CHỨNG VÀ CÁCH CHỮA

VIÊM PHỔI Ở TRẺ
Viêm phổi là căn bệnh nếu không được phát hiện và chữa trị kịp thời có thể là nguyên nhân gây tử vong cao cho trẻ dưới 5 tuổi. vì vậy các ông bố bà mẹ nên để ý


Để đảm bảo an toàn cho trẻ trước căn bệnh này, các mẹ nên biết các điều này.

1. Ủ ấm trẻ quá kỹ cũng là nguyên nhân khiến trẻ bị viêm phổi.
 Nhiều mẹ nghĩ rằng vào mùa đông cần phải ủ ấm cho trẻ một cách cẩn thận bằng nhiều lớp áo dày mỏng khác nhau. Tuy nhiên đây là một điều hoàn toàn sai lầm, việc ủ ấm quá mức có thể sẽ gây thêm bệnh cho trẻ. Các mẹ nên biết, thân nhiệt của trẻ không giống như người lớn. Trẻ sẽ cảm thấy nóng hoặc lạnh nhanh hơn. Trẻ thường hay chạy nhảy, chơi đùa nên dễ nóng người, toát mồ hôi ngay cả khi thời tiết đang rất lạnh. Vì thế, mặc quá ấm, trẻ dễ bị ra mồ hôi lưng, đầu. Nếu bố mẹ không sớm nhận thấy điều đó, thì trẻ sẽ bị cảm lạnh, viêm phổi.

2. Cách mặc áo cho bé
Vì thế, trong mùa đông, các mẹ chỉ nên mặc đủ ấm cho trẻ, chọn các loại quần áo sao cho an toàn, thoải mái và giúp bé duy trì thân nhiệt. Mẹ nên mặc cho bé một áo khóc dày bên ngoài, nếu trẻ ở trong nhà hoặc chơi đùa có thể cởi ra, lúc phải đi ngoài đường lạnh thì mặc vào dễ dàng


3. Triệu chứng bệnh viêm phổi ở trẻ em
Trẻ sốt cao và kéo dài: Sốt cao có thể là triệu chứng của nhiều bệnh khác, tuy nhiên trẻ sốt cao kéo dài trong 2-3 ngày liền thì lại là triệu chứng viêm phổi. Khi thấy trẻ bị sốt cao mà kéo dài cần được đưa ngay tới bệnh viện gần nhất.

- Nhịp thở nhanh so với lứa tuổi: Đây được coi là dấu hiệu chính và xuất hiện sớm nhất khi trẻ bị viêm phổi:
Trẻ dưới hai tháng, thở nhanh khi nhịp thở từ 60 lần/phút trở lên.
Trẻ từ 2 tháng đến dưới 12 tháng, thở nhanh với 50 lần/phút trở lên.
Trẻ từ 12 tháng đến dưới 5 tuổi, 40 lần/phút trở lên là thở nhanh.
- Rút lõm lồng ngực: Đây là triệu chứng của trẻ đã bị viêm phổi nặng. Cách để cha mẹ phát hiện duy nhất là nhìn vào phần dưới lồng ngực (1/3 dưới) lõm vào khi trẻ hít vào. Nếu chỉ phần mềm giữa xương sườn hoặc vùng trên xương đòn rút lõm thì không phải là rút lõm lồng ngực.
- Cơ thể tím tái: Tím tái là biểu hiện cơ thể trẻ, có thể nhận biết triệu chứng ở mặt, chân, tay cho đến toàn thân có biểu hiện da nhợt nhạt và tím lại thì đó là dấu hiệu của rối loạn hô hấp. Trẻ có hiện tượng này có nghĩa là đang viêm phổi nặng, nếu không được phát hiện và đưa đi cấp cứu kịp thời rất dễ để lại biến chứng, thậm chí là tử vong.( phải đưa trẻ vào viện càng nhanh càng tốt)
- Triệu chứng khác như: Trẻ khó thở, thở khò khè; Đau ngực, có thể đau ít hoặc nhiều; Môi khô, kèm theo mệt mỏi chán ăn


Bệnh viêm phổi có thể được ngăn chặn nếu người lớn biết cách

Để phòng tránh bệnh viêm phổi cũng như một số bệnh khác, trẻ phải được bú sữa mẹ hoàn toàn trong sáu tháng đầu đời và kéo dài cho đến khi trẻ dược 18 - 24 tháng. Trẻ phải được chăm sóc, bổ sung đầy đủ các chất dinh dưỡng, đặc biệt với trẻ từ 6 tháng đến 2 tuổi.
tiêm chủng vắc-xin sẽ giúp cung cấp sự bảo vệ chống lại sự nhiễm khuẩn gây ra bởi nhiều chủng phế cầu khác nhau.
phát hiện sớm các biểu hiện sớm của bệnh viêm đường hô hấp nói chung như: ho, sốt, chảy nước mũi, khó thở... và các rối loạn khác như tiêu chảy, ăn kém, chậm tăng cân... Nên đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nơi cư trú để được tư vấn và có hướng điều trị thích hợp, tránh lây lan cho người khác, không nên tự dùng thuốc cho trẻ mà phải được sự tư vấn thăm khám của bác sỹ



Chúc các bé sức khỏe.